LỜI MỞ ĐẦU
Công
cuộc đổi mới nền kinh tế ở nước ta từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đến nay đã
đem lại những thành quả tốt đẹp,trong đó đổi mới và phát triển doanh nghiệp là
một trong những nội dung cơ bản,trọng tâm nhất khi nền kinh tế nước ta chuyển
sang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN.
Sự
ra đời của cơ chế kinh tế mới, một mặt tạo ra tiền đề tích cực cho sự phát triển
của nền kinh tế nhưng mặt khác cũng bộc lộ những mặt trái của kinh tế thị trường.Do
chịu sự tác động của quy luật cạnh tranh ,quy luật cung- cầu,quy luật giá trị…,bên
cạnh những doanh nghiệp đứng vững và không ngừng phát triển thì một bộ phận không
nhỏ các doanh nghiệp do năng lực quản lí kinh doanh kém và do nhiều lí do khác
nữa đã lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn,dẫn đến
phá sản.
Nếu
coi nền kinh tế là một cơ thể thống nhất ,thì mỗi doanh nghiệp sẽ là một tế bào
của nền kinh tế.Vì vậy sự phát triển hay tụt hậu của các doanh nghiệp có thể làm
cho nền kinh tế phát triển hay yếu kém.Do vai trò hết sức quan trọng đó nên viêc
tìm ra nguyên nhân sâu xa của tình trạng
thua lỗ và tìm ra những giải pháp kinh tế hợp lí cho các doanh nghiệp là rất bức
thiết và nóng bỏng.Với sự cần thiết của việc tim ra giảI pháp kinh tế cho các doanh nghiệp lam ăn thua
kỗ,cùng với sự cho phép của các thầy cô,nên trong bài tiểu luận nay em xin phép
được trình bày đề tài “Giải pháp kinh tế
cho các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ”.
Trong giới hạn cho phép của đề tài ,em xin phép được trình bày một cách
ngắn gọn về các giải pháp kinh tế cho các doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ
mà em đã tiếp thu được từ quá trình học tập và thu thập tàI liệu.
Trong bài tiểu luận nay, em xin phép được trình bày với kết cấu như sau:
Phần
I:Ly luận
chung về doanh nghiệp và vấn đề thua lỗ của doanh nghiệp.
PhầnII:Tình trạng thua lỗ của các
doanh nghiệp Việt Nam.
Phần III:GiảI pháp kinh tế cho các
doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ.
Qua đây em cũng xin được chân thành cám
ơn cô giáo và nhiều thầy cô khác trong bộ
môn Kinh tế vi mô đã giúp đỡ em hoan thành tiểu luận này.Do kiến thức cũng như
sự hiểu biết con hạn chế nên trong bàI tiểu luận này ,sẽ không tránh khỏi những
thiếu sot.Em rất mong được các thầy cô thông cảm và chỉ bảo thêm cho em.
Em xin chân thành cảm ơn!
PHẦN I
LÝ LUẬN CHUNG
1-Doanh nghiệp và những vấn đề thua lỗ của doanh nghiệp.
1.1.Doanh nghiệp.
1.1.1.
Khái niệm.
Theo
kinh tế vi mô:doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh hàng hoá,dịch vụ theo nhu cầu
thị trường và xã hội để đạt lợi nhuận tối đa và hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất.
Theo
luật doanh nghiệp :doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh được thành lập hợp pháp
nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh và lấy hoạt đông kinh doanh làm nghề
nghiệp chính.
Đối với một cơ sở sản xuất,kinh doanh,để được coi
là doanh nghiệp, phải thoả mãn cac điều kiện sau:
*Doanh
nghiệp phải là một chủ thể hợp pháp,có tên gọi riêng.
*Tên
doanh nghiệp phải được đăng ký vào danh bạ thương mại.
*Phải
ghi chép liên tục quá trình hoạt động kinh doanh của mình,hàng năm phải tổng kết
hoạt động này trong một bảng cân đối và
trong báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật.
*Doanh
nghiệp phải tuân thủ các quy định pháp lý đặc biệt- luật kinh doanh,tức là mọi
quan hệ phát sinh trong hoạt động của doanh nghiệp đều phải xử lý theo luật
kinh doanh.
1.1.2Phân
loại doanh nghiệp.
Có thể phân loại doanh nghiệp theo
nhiều cách khác nhau:
Theo hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất,ta
có đa hình thức tổ chức kinh doanh
- Doanh nghiệp nhà nước :đây là loại doanh
nghiệp được nhà nước đầu tư vốn để thành lập và quản lý với tư cách là chủ sở hữu.
- Doanh nghiệp tư bản tư nhân:là
doanh nghiệp do tư nhân trong và ngoài nước bỏ vốn thành lập và tổ chức kinh
doanh.
- Doanh nghiệp tư bản nhà nước:đây là
doanh ngiệp có hình thức liên doanh giữa nhà nước với tư bản nước ngoài cùng góp
vốn thành lập công ty và đồng sở hữu nó.
- Doanh nghiệp cổ phần:là doanh nghiệp do
nhiều người góp vốn và lợi nhuận được phân chia theo nguồn vốn đóng góp.
Theo quy mô sản xuất: doanh nghiệp có quy
mô lớn,doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ.
Theo cấp quản lý có doanh nghiệp do
trung ương quản lý,doanh nghiệp do địa phương quản lý.
Theo
ngành kinh tế kỹ thuật:có doanh nghiệp công nghiệp,xây dựng,doanh nghiệp nông
nghiệp,lâm nghiệp,ngư nghiệp,doanh nghiệp thương nghiệp,doanh nghiệp vận tải,kinh
doanh du lịchv.v…
Theo
trình độ kỹ thuật:có doanh nghiệp sử dụng lao động thủ công,doanh nghiệp nửa cơ
khí,cơ khí hoá và tự động hoá.
Các
doanh nghiệp có quyền bình đẳng trước pháp luậtcủa nhà nước.Và dù là doanh nghiệp
nào thì cũng đều được thành lập,hoạt động,giải thể theo quy định của pháp luật,phải
lấy hiệu quả kinh doanh là mục tiêu quan trọng cho sự tồn tại của doanh nghiệp.
1.1.3
Ba vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp.
Thực
tế phát triển ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam đã cho chúng ta thấy rằng:
mọi doanh nghiệp muốn đề ra các biện pháp để đạt hiệu quả cao trong kinh
doanh,tồn tại và phát triển được trong cạnh tranh đều phải giải quyết tốt được
ba vấn đề kinh tế cơ bản.Đó là:quyết định sản xuất cái gì,quyết đinh sản xuất
như thế nào,quyết định sản xuất cho ai.
Quyết
định sản xuất cái gì?
Việc lựa chọn để
quyết định sản xuất cái gì chính là quyết định sản xuất những loại hàng hoá,dịch
vụ nào,số lượng bao nhiêu,chất lượng như thế nào,khi nào cần sản xuất và cung ứng.Cung
cầu,cạnh tranh trên thị trường tác động qua lại với nhau để có ảnh hưởng trực
tiếp đến việc xác định giá cả thị trường và số lượng hàng hoá cần cung cấp trên
một thị trường.Vậy trước khi quyết định sản xuất cái gì doanh nghiệp cần phải tìm
hiểu kĩ thị trường,nắm bắt kịp thời các thông tin thị trường.Một phương tiện giúp
giải quyết vấn đề này là giá cả thị trường,giá cả thị trường là thông tin có ý
nghĩa quyết định đối với việc lựa chọn sản xuất và cung ứng những hành hoá có lợi
nhất cho cả cung và cầu trên thị trường.
Quyết định sản xuất như thế nào?
Quyết định
sản xuất như thế nào nghĩa là do ai và tài nguyên thiên nhiên nào với hình thức
công nghệ nào,phương pháp sản xuất nào?
Sau khi đã lựa chọn được cần sản xuất cái gì,các
doanh nghiệp phải xem xét và lựa chọn việc sản xuất những dịch vụ,hàng hoá đó
như thế nào để đạt lợi nhuận tối đa và hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất.Lợi nhuận
chính là động cơ khuyến khích các doanh nghiệp tìm kiếm,lựa chọn các đầu vào tốt
nhất với chi phí thấp nhất,các phương pháp sản xuất có hiệu quả nhất,cạnh tranh
thắng lợi trên thị trường để có lợi nhuận cao nhất.Nói một cách cụ thể là giao
cho ai,sản xuất hàng hoá dịch vụ này bằng nguyên vật liệu gì ,thiết bị dụng cụ
nào,công nghệ sản xuất ra saođể tối thiểu hoá chi phí sản xuất,tối đa hoá lợi
nhuận mà vẫn đảm bảo được chất lượng cũng như số lượng sản phẩm.Muốn vậy, các
doanh nghiệp phải luôn đổi mới kỹ thuật và công nghệ,nâng cao trình độ công nhân
và lao động quản lý nhằm tăng lượng chất xám trong hàng hoá và dịch vụ .
Quyết
định sản xuất cho ai?
Quyết định
sản xuất cho ai đòi hỏi phải xác định rõ ai sẽ được hưởng và được lợi từ những
hàng hoá và dịch vụ của đất nước.
Vấn đề mấu
chốt ở đây cần giải quyết là những hàng hoá và dịch vụ sản xuất phân phối cho
ai để vừa kích thích mạnh mẽ sự phát triển kinh tế có hiệu quả cao,vừa đảm bảo
sự công bằng xã hội.Nói một cách cụ thể là sản phẩm quốc dân thu nhập thuần tuý
của doanh nghiệp sẽ được phân phối cho xã hội ,cho tập thể ,cho cá nhân như thế
nào để kích thích cho sự phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng được nhu cầu công
cộng và các nhu cầu xã hội khác.Để biết được sản xuất cho ai phụ thuộc vào quá
trình sản xuất và các giá trị của các yếu tố sản xuất , phụ thuộc vào lượng hàng
hoá và giá cả của các loại hàng hoá và dịch vụ.
KẾT LUẬN:Quá
trình phát triển kinh tế của mỗi nước ,mỗi ngành ,mỗi địa phương và mỗi doanh nghiệp
chính là quá trình lựa chọn để quyết định tối ưu ba vấn đề cơ bản nói trên.Nhưng
việc lựa chọn để quyết định tối ưu ba vấn đề ấy lại phụ thuộc vào trình độ phát
triển kinh tế xã hội , khả năng và điều kiện,phụ thuộc vào việc lựa chọn hệ thống
kinh tế để phát triển ,phụ thuộc vào vai trò , trình độ và sự can thiệp của các
chính phủ ,phụ thuộc vào chế độ chính trị – xã hội của mỗi nước.
1.2.Vấn đề thua lỗ của doanh nghiệp.
Một
doanh nghiệp được coi là thua lỗ khi tổng doanh thu của doanh nghiệp (TR) nhỏ hơn
tổng chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (TC).
Doanh nghiệp có thể lấy nguồn vốn sàn để bù đắp lỗ.Nhưng nếu tình trạng
thua lỗ kéo dài và trầm trọng hơn thì doanh nghiệp sẽ suy yếu dẫn đến phá sản.Cụ
thể ta sẽ phân tích tình trạng thua lỗ ,xem xét thái độ ứng xử của doanh nghiệp
trong ngắn hạn và trong dài hạn.
1.2.1Vấn
đề thua lỗ của doanh nghiệp trong ngắn hạn.
Đồ thị dưới
đây thể hiện mối quan hệ giữa doanh thu cận biên
(MR),chi phí cận biên (MC) và chi phí bình quân(AC)
Cần chú ý một điểm quan trọng trong phần
phân tích dưới đây: doanh thu cận biên vừa bằng giá cả tiêu thụ sản phẩm.
Mức sản lượng tối ưu(để tối đa hoá lợi nhuận )làm mức sản lượng mà tại đó MR=MC.
Trường hợp thứ nhất:nếu giá thị trường
chấp nhận P1,đường cầu và doanh thu cận biên là D1 và MR1.Sản lượng tối ưu là Q1
đơn vị hàng hoá,tương ứng với điểm A nơi gặp nhau của hai đường MR1 và MC.lợi
nhuận của doanh nghiệp
Õ1=TR-TC=P1.Q1-AC.Q1=Q1(P1-AC)>0 vì P1>AC.
Vậy doanh ngiệp làm ăn có lãi,nên tiếp tục sản
suất và phấn đấu để đạt được nhiều lợi nhuận hơn.
Trường hợp thứ hai:khi giá cả giảm xuống mức
P2,MC và MR2 gặp nhau tại điểm B là điểm tối thiểu của AC ,tương ứng mức sản lượng
tối ưu Q2.Lúc ấy lợi nhuận của doanh nghiệp:Õ2=TR-TC=Q2.(P2-ACmin)=0 do P2=ACmin.
Doanh nghiệp hoà vốn,nên quyết định sản
xuất ,tìm cách hạ thấp chi phí nâng cao chất lượng sản phẩm đẩy mạnh lượng bán
ra để tăng doanh thu,tìm kiếm lợi nhuận.
Trượng
hợp thứ 3:nếu giá cả tiếp tục giảm xuống mức P3 ,MC và MR3 sẽ gặp nhau tại diểm
C tương ứng mức sản lượng tối ưu Q3 .Do AC>P3 nên lợi nhuận của doanh nghiệp
sẽ <0 tức là tổng doanh thu không đủ để bù đắp tổng chi phí.Doanh nghiệp bị
lỗ vốn.Khi đó có hai giả định:
Nếu doanh nghiệp quyết định đóng cửa thì
doanh nghiệp sẽ vẫn phải chịu chi phí cố định(trong ngắn hạn).Vậy phần lỗ đúng
bằng FC.
Nếu doanh nghiệp tiếp tục sản xuất:Õ=TR-TC=P3.Q3-Q3.AVC-FC=Q3.(P3-AVC)-FC.Do AVC<P3<AC
nên doanh nghiệp sẽ bù đắp được chi phí biến đổi ngoài ra còn dôi ra một lượng
tiền dùng để bù đắp vào chi phí cố định.Vậy phần lỗ <FC.
Quyết
định của doanh nghiệp lúc này là tiếp tục tiến hành sản xuất đồng thời tìm giải
pháp để làm ăn có hiệu quả hơn.
Trường hợp thứ 4:nếu giá cả giảm xuống tới
mức P4,đường MR4 gặp đường MC tại J,doanh nghiệp giảm mức sản lượng tới mức Q4.Nếu
tiếp tục sản xuất thì phần lỗ sẽ lớn hơn cả FC vì P4<AVCmin.Quyết định khôn
ngoan nhất của doanh nghiệp là ngừng sản xuất.
Trong ngắn hạn:
Tóm
+
Doanh nghiệp làm ăn thua lỗ khi P<ACmin.
+ Doanh nghiệp có nguy cơ phá sản khi
AVCmin<P<ACmin.
+ Doanh nghiệp đóng
cửa sản xuất khi P<AVCmin.
1.2.2 Vấn đề thua lỗ của doanh nghiệp trong dài hạn.
Hình2:Các đường chí phí trong dài hạn gồm
có chi phí cận biên dài hạn LMC,chi phí bình quân dài hạn LAC.
Với mức giá P=P1,ta có lợi nhuận của doanh
nghiệp:Õ=TR-TC=P.Q-LAC.Q=0.Tại đó danh nghiệp thu trong dài hạn vừa
đủ để bù dắp chi phí trong dài hạn.
Với mức giá P<P1:doanh nghiệp sản xuất
thua lỗ,tổng doanh thu trong dài hạn không đủ để bù đắp tổng chi phí trong dài
hạn.Do đó tại mức giá này doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thua lỗ và phải đóng
cửa.
Vậy trong dài hạn,điểm đóng cửa của doanh
nghiệp là P<LACmin.Có nghĩa là trong điều kiện dài hạn thì không cho phép
doanh nghiệp làm ăn thua lỗ.
2.Nguyên nhân tình trạng thua lỗ của doanh nghiệp.
2.1.Nguyên nhân khách quan.
2.1.1Do ảnh hưởng của cơ chế thị trường.
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao
cấp mọi quyết định sản xuất cái gì,như thế nào,cho ai của doanh nghiệp đều được
nhà nước,cụ thể là bộ chủ quản kế hoạch quy định một cách chủ quan.Mục đích hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp là làm sao đáp ứng dược yêu cầu mà bộ chủ quản
và uỷ ban kế hoạch nhà nước đã thông qua trong kế hoạch.Nếu bị thua lỗ do hàng
hoá theo giá kế hoach thì doanh nghiệp được bù đắp lỗ bằng các khoản trợ cấp.Doanh
nghiệp trở nên thụ động và ỷ lại vào nhà nước.
Trái ngược hoàn toàn,doanh nghiệp trong
cơ chế thị trường có tính tự chủ rất cao.Họ được tự do thiết kế sản phẩm,tìm kiếm
nguồn cung ứng vật tư và khách hàng,thuê mướn và sa thải nhân công,quyết định sử
dụng trang thiết bị cơ bản nào, tìm nguồn tài chính và ấn định giá cả.Mục tiêu
kinh tế của doanh nghiệp chính là tối đa hoá lợi nhuận trong môi trường cạnh
tranh. Do đo các doanh nghiệp trong cơ
chế thị trường cần phải năng động hơn rất nhiều.Trong quá trình chuyển từ cơ chế
tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường tự do cạnh tranh có sự quản
lí của nhà nước,không phải bất cứ doanh nghiệp nào cũng nắm bắp kịp với xu thế
vận động của thị trường,các gíam đốc doanh nghiệp thời bao cấp không có kinh
nghiệm quản lí theo cơ chế thị trường bị mất phương hướng gây nên tình trạng
thua lỗ đặc biệt xảy ra là trong doanh nghiệp nhà nước.
Mặt khác trong nền kinh tế thị trường thì
giá cả và sản lượng hàng hoá đều do thị trường quyết định.Vì vậy doanh nghiệp nào
không nắm bắt và xử lí kịp thời thông tin thị trường sẽ rất dễ bị thua lỗ dẫn tới
phá sản.Nền kinh tế thị trường còn được coi như một sân chơi đồng nhất mà ở đó
các doanh nghiệp đều ra sức cạnh tranh chèn ép lẫn nhau vì mục tiêu lợi nhuận.Dẫn
tới nhiều doanh nghiệp bị thua lỗ do không đủ sức cạnh tranh và tham gia vào cuộc
chơi ấy.
2.1.2.Do chính sách của chính phủ còn nhiều tồn tại và bất
cập.
Nền kinh tế nước ta vận động theo cơ chế
thị trường dưới sự quản lí của nhà nước.Các
chính sách của chính phủ có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển
của doanh nghiệp.Bởi đó là công cụ để chính phủ điều tiết nền kinh tế,tạo ra môi
trường cạnh tranh công bằng và ổn định,hạn chế những nhược điểm của nền kinh tế
thị trường.Tuy nhiên, không phải bất cứ chính sách kinh tế, tài chính nào của
chính phủ đều có tác động tích cực tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp mà vẫn còn những chính sách gây nên tình trạng thua lỗ của doanh nghiệp.Có
thể kể đến bất cập lớn nhất trong chính sách của chính phủ đó là thủ tục hành
chính rườm rà,các khâu xét duyệt thủ tục đều chậm,tạo nên nhiều rắc rối cho
doanh nghiệp trong việc xin giấy phép kinh doanh,giấy phép xuất nhập khâủ,sự
thay dổi mặt hàng kinh doanh,gia tăng quy mô hay chuyển địa điểm mới cũng cần có
giấy phép mới….Điều đó đã làm cho hoạt động của các công ty kém linh hoạt.Thậm
chí có thể làm mất thời cơ của doanh nghiệp mà một trong những bí quyết quan trọng
để đi đến thành công là doanh nghiệp phải biết tận dụng cơ hội,chớp thời cơ kịp
thời.Ngoài ra những thay đổi đột xuất trong chính sách thương mại và vấn đề cưỡng
chế, cơ chế nhiều tầng trong vấn đề thực hiện chính sách,sự không thống nhất và
thiếu đồng bộ trong cơ chế qản lí cũng như việc đưa ra những chính sách của chính
phủ(“tiền hậu bất nhất”)đều có ảnh hưởng xấu tới việc kinh doanh sản xuất của
doanh nghiệp.Sự can thiệp của chính phủ với các chính sách thuế có thể làm một
số doanh nghiẹp bị thua lỗ.Vì thuế làm tăng giá thành sản phẩm,giảm cung,làm
doanh nghiệp bán được ít hàng hoá hơn.
2.1.3.Do ảnh hưởng của môi trường quốc tế và môi trường
trong nước.
Cả thị trường trong nước và thị trường quốc
tế đều ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thị trường ngày nay có nhiều biến động lớn,nguyên
nhân do chiến tranh,hay do khủng hoảng kinh tế tạo nên sợ khủng hoảng tài chính,tác
động tới cung,cầu,giá cả…làm không ít doanh nghiệp bị thua lỗ.
VD:khủng hoảng tiền tệ ở Thái Lan tạo nên
khủng hoảng tài chính lớn ở khu vực và ảnh hưởng đến nhiều doanh nghiệp nước
ta.Hay sự kiện khủng bố ngày 11-9-2001 đã làm cho thu nhập của ngành hàng không
du lịch thế giới sụt giảm.
Ngoài ra có thể kể đến tình trạng buôn lậu,hàng
giả kém chất lượng tràn lan trên thị trường có ảnh hưởng rất nghiêm trọng đối với
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Sai lầm khi phân tích các yếu tố tự nhiên
như:tài nguyên khoáng sản,vị trí địa lí và sự phân bố địa lí của vùng kinh tế
trong nước củng gây hậu quả khủng hoảng cho doanh nghiệp.Sự phát triển vượt bậc
của khoa học công nghệ thế giới làm cho cộng nghệ hiện tại của doanh nghiệp trở
nên lạc hậu. Làm mất khả năng cạnh tranh của các hàng hoá và dịch vụ trên thị
trường…
2.2 .Nguyên nhân chủ quan của
doanh nghiệp.
Muốn phát triển,mọi doanh nghiệp đều phải
giải quyết tốt được ba vấn đề kinh tế cơ bản:sản xuất cái gì,sản xuất như thế nào,sản
xuất cho ai.Tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng làm được điều đó.Việc không
tìm được lời giải tối ưu cho ba bài toán cơ bản ấy là nguyên nhân chủ quan làm
cho các doanh nghiệp bị thua lỗ.
*Trước hết là sai lầm trong lựa chọn sản
phẩm:khi doanh nghiệp bước đầu xâm nhập thị trường cần phải nắm giữ được các thông
tin liên quan đến mọi thành tố của thị trường từ đó hoạch định chiến lược,chính
sách,kế hoạch kinh doanh,lựa chọn sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường.Việc
lựa chọn sản phẩm sai lầm như sản phẩm có biến động lớn về giả cả,cung lớn hơn
cầu,lỗi thời làm cho sản phẩm của doanh nghiệp khó bán dẫn tới tình trạng thua
lỗ.
*Phương thức sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp kém hiệu quả,trang thiết bị, trình độ khoa học công nghệ thấp, nhập
những công nghệ lạc hậu của thế giới do thiếu thông tin,không tìm ra những phương
án giảm chi phí sản xuất,khả năng cạnh tranh kém làm cho doanh nghiệp thua lỗ.
Do nguồn nhân lực:lãnh
đạo không có đủ trình độ năng lực quản lí, không đánh giá đúng tình hình sản xuất
của doanh nghiệp như thế nào cho hợp lí nhất lựa chọn nhầm bạn hàng đối tác.Trình
độ công nhân thì yếu kém,không thể vận hành tối đa hiệu quả nhất của dây chuyền
sản xuất dẫn tới năng suất thấp.Doanh nghiệp không đủ doanh thu để hoàn lại vốn
dẫn đến thua lỗ.Ví dụ:Một công ty lắp ráp ôtô mà thuê lao động không qua trường
lớp đào tạo thì lao động đó không đủ trìng độ để có thể làm việc có hiệu quả
cao,năng suất thấp,tất yếu doanh nghiệp sẽ bị thua lỗ.
*Do sai lầm trong việc lựa chọn thị trường
tiêu thụ,nơi cần nhiều hàng hoá thì không bán,trong khi lại tiêu thụ ở những nơi
sản phẩm bán ra không được ưa chuộng dẫn tới ế thừa.Ví dụ:Hàng xa xỉ cao cấp như
nước hoa…phải tiêu thụ ở các thành phố lớn đời sông dân cư sung túc.Nếu doanh
nghiệp không xác định được vấn đề này sẽ tất yếu thua lỗ.
*Do doanh nghiệp khác cố tình bán giá thấp
làm giảm khả năng của doanh nghiệp,buộc doanh nghiệp phải hạ giá theo, doanh
thu giảm,có thể làm doanh nghiệp thua lỗ.Hay doanh nghiệp chủ động chạy theo mục
tiêu khác như chiếm lĩnh thị phần,loại bỏ đối thủ cạnh tranh do đó bán giá thấp
chấp nhận thua lỗ trong ngắn hạn để loại đối thủ cạnh tranh.
*Do ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên:bão,lụt….
PHẦN
II
TÌNH TRẠNG THUA LỖ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Như phần mở bài đã trình bày ,do vốn kiến
thức cũng như trình độ hiểu biết còn hạn chế ,cho nên em chỉ xin được đề cập đến
vấn đề thua lỗ của doanh nghiệp nhà nước.Và trong suốt đề tài này em chỉ nêu tình
hình thua lỗ của doanh nghiệp nhà nước(DNNN).
1- Khái quát tình trạng thua lỗ của các doanh nghiệp Việt
Nam hiện nay.
Ngay từ khi hình thành,không ít doanh
nghiệp thiếu cả những điều kiện về vốn,công nghệ,trang thiết bị kĩ thuật,về cán
bộ và công nhân kĩ thuật.Cơ quan chức năng,cơ quan hành chính buông lỏng vai trò
quản lí nhà nước đối với doanh nghiệp.ở doanh nghiệp thì chưa làm rõ được cơ chế
đảm bảo quyền và trách nhiệm quản lí,xử dụng tài sản nhà nước chưa thật sự chuyển
sang kinh doanh.
Quy mô doanh nghiệp còn nhỏ bé,hiệu quả
kinh doanh chưa cao,khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thấp, chi phí sản xuất,giá
thành cao.Số lượng doanh nghiệp làm ăn thua lỗ quá nhiều.Đó là một thực trạng đáng
quan tâm.Theo số liệu điều tra hiện nay,tình hình hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp như sau:
Tt
|
Chỉ tiêu
|
Đơn vị
|
2002
|
2003
|
1
|
Doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh
nghiệp
|
|||
-Số lượng doanh nghiệp
|
DN
|
>71500
|
||
-Số vốn đầu tư so với tổng mức đầu tư toàn
xã hội
|
%
|
25,3
|
27
|
|
2
|
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài(FDI)
|
DN
|
4159
|
|
3
|
Doanh nghiệp nhà nước
|
|||
a
|
Số lượng doanh nghiệp
|
DN
|
5175
|
4800
|
-Doanh nghiệp có lãi
|
%
|
78,5
|
77,2
|
|
+Doanh
nghiệp trung ương
|
%
|
80,7
|
80,4
|
|
+Doanh
nghiệp địa phương
|
%
|
75,8
|
75,2
|
|
-Doanh nghiệp lỗ
|
%
|
15,8
|
13,5
|
|
+Doanh
nghiệp trung ương
|
%
|
11,8
|
10,9
|
|
+Doanh
nghiệp địa phương
|
%
|
18,8
|
15,2
|
|
b
|
Vốn nhà nước tại doanh nghiệp
|
Tỷ đồng
|
173000
|
189293
|
+Doanh
nghịêp trung ương
|
Tỷ đồng
|
129750
|
144179
|
|
+Doanh
nghiệp địa phương
|
Tỷ đồng
|
43250
|
45114
|
|
c
|
Doanh thu
|
Tỷ đồng
|
422004
|
464204
|
d
|
Lợi nhuận
|
Tỷ đồng
|
18860
|
20428
|
e
|
Lỗ luỹ kế
|
Tỷ đồng
|
997
|
1077
|
f
|
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn
|
%
|
10,9
|
10,8
|
g
|
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
|
%
|
4,5
|
4,4
|
h
|
Tổng số nợ phải thu
|
Tỷ đồng
|
97977
|
96775
|
i
|
Tổng số nợ phải trả
|
Tỷ đồng
|
188898
|
207788
|
k
|
Tổng nộp ngân sách
|
Tỷ đồng
|
78868
|
86754
|
Qua số
liệu điều tra cho thấy năm 2003 cả nước còn gần 4800 doanh nghiệp nhà nước,số
kinh doanh có lãi chiếm 77,2%(giảm 8,8% so với năm 2002)trong đó doanh nghiệp
trung ương là 80,4% ,doanh nghiệp địa phương là 75,2%.Sồ doanh nghiệp kinh
doanh thua lỗ chiếm 13,5% tương ứng là 648 doanh nghiệp(so với năm 2002 giảm
170 doanh nghiệp,nhưng năm 2003 số doanh nghiệp nhà nước lại giảm 375 doanh
nghiệp so với năm 2002) trong đó doanh nghiệp trung ương là 10,9% ,doanh nghiệp
địa phương là 15,2% .Lỗ lũy kế năm 2003 tăng 80 tỉ đồng so với năm 2002(997 tỷ đồng)một
con số khá lớn đối với Việt Nam.Tổng số nợ phải thu 96775 tỷ đồng,bằng 51% tổng
số vốn và 23% tổng doanh thu,trong đó doanh nghiệp trung ương là 70313 tỷ đồng
chiếm 72,5% ,doanh nghiệp địa phương 26563 tỷ đồng,bằng 27,5% số phải thu.Tổng
số nợ khó đòi 2308tỷ đồng(doanh nghiệp trung ương 45,4% ,doanh nghiệp địa phương
54,6%).Tổng số nợ phải trả 207789 tỷ đồng,trong đó doanh nghiệp trung ương
149323 tỷ đồng,chiếm 71,8% ,doanh nghiệp địa phương 58466 tỷ đồng,chiếm 28,2%.
Các khoản nợ phải trả,chủ yếu vay ngân hàng chiếm 76% nợ phải trả,phần còn lại
là chiếm dụng các khoản phải nộp ngân sách,chiếm dụng vốn của doanh nghiệp khác,vay
cán bộ công nhân viên trong đơn vị.Qua các con số trên,phần nào cho ta thấy được
tình trạng thua lỗ,nợ đọng như trên là khá nghiêm trọng trong sự nghiệp công
nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước hiện nay.
Doanh
nghiệp nhà nước thua lỗ lớn nhất là các doanh nghiệp nhà nước ở địa phương(chiếm
15,2% tổng số doanh nghiệp nhà nước).Số doanh nghiệp làm tăng nợ khó đòi,không
có khả năng trả nợ kéo dầi,dệt may Nam Định, năm 1995 lỗ 130 tỷ đồng…Cuối năm
2001 tình hình sản xuất và tiêu thụ phân bón cũng đang rơi vào tình trạng trì
trệ,rất nhiều doanh nghiệp nhà nước hàng hoá ế thừa,thua lỗ.Điển hình như công
ty phân bón miền Nam thương hiệu nổi tiếng mà công nợ cũng lên tới vài trăm tỷ đồng.Hay
như công ty gang thép Thái Nguyên –cáI nôI của ngành công nghiệp Việt Nam hiện
nay đang phát triển mạnh mẽ ,công ty đủ sức cạnh tranh trong hội nhập và phát
triển.Nhưng trong giai đoạn trước năm 1998 công ty đã có thời kỳ điêu dứng và
thua lỗ.Tư năm 1998 trở về trước ,công ty gang thép TháI nguyên không khac gì một
xã hội thu nhỏ,Bởi để đảm bảo cho một đơn vị hoạt động có gần 1200 cán bộ công
nhân viên với nhiều ngành nghề khac nhau.Công ty có cả hệ thống trường họcgomf
nhà trẻ mẫu giáo ,một trường PTTH lưu lượng 1000-1200 học sinh,một bệnh viện trên
150 giường bệnh ,với khoản kinh phí khoảng 1,5 tỷ đồng/năm.Hơn nữa ,máy móc thiết
bị đã cũ kỹ lạc hậu nên sản phẩm làm ra kém sức canh tranh ,đặc biệt là sự yếu
kém về trình độ quản lí sản xuất kinh doanh ,cộng với sự yếu kém trình độ các
công nhân trong sản xuất kinh doanh đã tạo lên những nguyên nhân làm công ty bị
thua lỗ.Đến cuối năm 1998,công ty bị lỗ
hơn 24 tỷ đồng,một thực trạng đau buồncho úai nôI ngành công nghiệp Việt Nam.
Tình hình ở các tổng công ty cũng khá phức
tạp,theo số liệu năm 2000 có 17 tổng công ty loại 91 và 76 tổng công ty loại
90,trong 17 tổng công ty loại 91 thì có 13 tổng công ty lỗ hoặc hoà vốn,hầu hết
các doanh nghiệp thành viên trong tổng các công ty này đều lỗ hoặc hoà vốn.Tổng
công ty dâu tằm tơ năm 1995 lỗ 73,3 tỷ đồng,có tới 16/17 doanh nghiệp thành viên
bị thua lỗ;ở bộ thuỷ sản,năm 1995 trong tổng số 46 doanh nghiệp thì có tới 14
doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản,đến năm 2000 trong 60 doanh nghiệp thì
có 23 doanh nghiệp thua lỗ.
Trong
tình trạng các danh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả,thua lỗ nhiều và thường
xuyên như vậy,đã có nhiều tác động tiêu cực đến nền kinh tế,gây khó khăn lớn đến
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.Do vậy muốn nâng cao hiệu quả và
sức cạnh tranh của các doanh nghiệp không thể không mổ xẻ tận gốc để tìm ra
nguyên nhân sâu xa và có giải pháp chữa trị triệt để căn bệnh” nan y” đó.
2- Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thua lỗ.
2.1.Nguyên nhân khách quan:
Có nhiều nguyên nhân khách quan gây ra tình
trạng thua lỗ trên.Ngoài những nguyên nhân nói chung ở phần I thì còn có một số
nguyên nhân cụ thể và cơ bản sau:
Nguyên
nhân thuộc về cơ chế,chính sách,quản lí:
*Hệ
thống pháp luật,chính sách cơ chế ban hành và thực hiện còn mang tính tình thế.Các
chính sách tài chính chồng chéo,chính sách thương mại nhiều khâu,các khâu thực
hiện còn chậm chưa tách bạch quản lí nhà nước với quản lí doanh nghiệp.Quy định
pháp luật thiếu chặt chẽ,chưa đồng bộ,chậm sửa đổi…
*Do
chức năng quản lí kinh tế xã hội của nhà nước với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.Một
nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng thua lỗ thường xuyên của các doanh nghiệp
nhà nước đó là nhà nước đã duy trì một số doanh nghiệp trong các ngành làm ăn kém
hiệu quả,thậm chí thua lỗ nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định cân đối nền kinh tế.
*Nhà
nước chưa có chiến lược quy hoạch dài hạn đầy đủ về phát triển các ngành kinh tế.Các
ban ngành địa phương không xác định đúng hướng đầu tư,cơ cấu doanh nghiệp chưa
hợp lí,sản phẩm làm ra ế thừa làm doanh nghiệp thua lỗ.
*Vai
trò đại diện chủ sở hữu của nhà nước chưa được quy định cụ thể rõ ràng nên
trong quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn.
*Chính
sách đổi mới công nghệ,phương pháp phương tiện trong sản xuất kinh doanh và quản
lí chậm được thực hiện.Điều đó gây nên tình trạng tụt hậu của doanh nghiệp nhà
nước,cho nên thua lỗ là không thể tránh khỏi.
*Ngoài
ra,trước kia chúng ta chưa nhận thức đúng vai trò chủ đạo của các doanh nghiệp
nhà nước cho rằng chủ đạo chủ yếu là về quy mô và tỷ trọng ngày càng cao của nó,ít
quan tâm đến hiệu quả sản xuất kinh doanh,coi nhẹ các thành phần kinh tế khác gây
ra khó khăn lớn khi chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần.
Nguyên
nhân thuộc về nguồn gốc hình thành của doanh nghiệp nhà nước.
Trong
thời kì bao cấp chúng ta coi thường sự vận động các quy luật của thị trường,không
thừa nhận sự cạnh tranh trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa,không có chính sách
thích đáng để buộc các xí nghiệp quốc doanh cạnh tranh để phát triển,gây nên tình
trạng ỷ lại vào nhà nước.Có một thời gian dài ta tập trung hết nguồn lực để xây
dựng tràn lan các xí nghiệp quốc doanh dẫn đến nhiều xí nghiệp xây dựng không
phù hợp.Mặt khác,nhiều doanh nghiệp được thành lập trong chiến tranh,được xây dựng
trên cơ sở kỹ thuật lạc hậu,hoạt động kém hiệu quả là không thể tránh khỏi.
2.2.Nguyên nhân chủ quan:
Doanh
nghiệp nhà nước thua lỗ không chỉ do nghuyên nhân khách quan nêu trên mà còn một
số nguyên nhân chủ quan:
*Nguồn vốn thiếu,công nợ lớn,khả năng thanh toán
hạn chế.Vốn nhà nước đầu tư hạn chế,vốn tự bổ sung từ lợi nhuận sau thuế ít do
hiệu quả doanh nghiệp thấp kém hoặc không có.Việc huy động vốn dưới hình thức
phát hành trái phiếu doanh nghiệp,tín phiếu hoặc nhận vốn góp vốn liên doanh rất
hạn hẹp.Tổng vốn của nhà nước tại doanh nghiệp năm 2003 là 189293 tỷ đồng,bình
quân một doanh nghiệp có 45 tỷ đồng là khá nhỏ.Vốn ít,công nợ lại nhiều,nợ phải
trả ở doanh nghiệp nhà nước thường cao nhiều so với vốn.
Việc thiếu
vốn và công nợ quá lớn như vậy có ảnh hưởng rất lớn đến việc kinh doanh,làm cho
hiệu quả kinh doanh kém,đây là một nguyên nhân dẫn tới tình trạng thua lỗ.
*Tiêu
hao nguyên vật liệu cao:nguyên vật liệu thiếu dẫn đến chi phí cho nguyên vật liệu
đầu vào tăng cao(tranh mua,tranh bán)hoặc phụ thuộc biến động,rủi ro thị trường
thế giới(nguyên liệu nhập khẩu)dẫn tới hoạt động của doanh nghiệp luôn rơi vào
thế bị động.Nhiều sản phẩm có định mức chi phí tiêu hao nguyên vật liệu cao.Đây
là nguyên nhân gây cản trở khả năng cạnh tranh về giá trên thị trường của các sản
phẩm của doanh nghiệp.
*Chi
phí khấu hao máy móc,thiết bị quá lớn:máy móc,thiết bị công nghệ lạc hậu công
suất huy động thấp.Hiệu quả đầu tư kém,lựa chọn giải pháp công nghệ lạc hậu thấp
kém,đầu tư không đồng bộ,chi phí đầu tư xây dựng cơ bản lớn hậu quả làm cho
doanh nghiệp đi vào hoạt động rất khó khăn,không trả được nợ.Chi phí khấu hao tính
trên đơn vị sản phẩm cao do không khai thác hết công suất tài sản cố định(nhiều
doanh nghiệp hiệu suất sử dụng tài sản cố định chỉ đạt 50-60%)hoặc tổng vốn đầu
tư lớn.
*Chi
phí tiền lương cao:chi phí tiền lương trong giá thành nhiều sản phẩm cao nhưng
mức lương bình quân thấp,thiếu lao động có tay nghề cao,năng suất lao động thấp.Trình
độ thành thạo của người lao động còn hạn chế,số lao động dôi dư nhiều.Trình độ
quản lí kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước còn thấp,các cán bộ chủ yếu đào tạo
trong thời kì bao cấp.Hiện tại có khoảng 2/3 giám đốc doanh nghiệp nhà nước không
đọc được báo cáo tài chính không thể phân tích tình hình kinh doanh của doanh
nghiệp qua số liệu bảng cân đối tài chính,đây là nguyên nhân dẫn tới tình trạng
sử dụng vốn không hiệu quả.Hơn nữa một hạn chế khác đối với đội ngũ cán bộ quản
lí là suy nghĩ chiến lược không rõ nét .So với các doanh nghiệp liên doanh và
doanh nghiệp nước ngoai thì tầm nhìn chiến lược của khá nhiều cán bộ quản lí trong DNNN bị hạn
chế .Các cán bộ này tập trung quá nhiều thời gian để suy nghĩ về những vấn đề điều
hành ,mang tính ngắn hạn và trước mắt .Họ ít khi dành nhiều thời gian để suy
nghĩ về những vấn đề chiến lược của doanh nghiệp Hậu quả là các nguồn lực trong
DNNN thường bị dàn trải ,ít khi được tập trung và năng lực cạnh tranh của các
DNNN thấp.
*Chi phí quản lí tương đối cao
so với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp(như lãi vay,giao dịch,tiếp khách,tiếp
tân,khánh tiết,quảng cáo,xúc tiến thương mại…).
*Các
doanh nghiệp hầu hết chưa quan tâm đến việc quảng cáo,tiếp thị sản phẩm do công
ty mình làm ra nên sản phẩm ít biết đến rộng rãi,người tiêu dùng cần mua mà lại
không biết để mua.Do đó gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp.
3_Các biện pháp đã được khắc phục trong thời gian qua.
Thời
gian qua,nhà nước đã đưa ra nhiều biện pháp để khắc phục tình trạng thua lỗ của
doanh nghiệp nhà nước.Trong đó có các biện pháp đặc trưng nhất:
3.1.Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
Cổ phần
hoá doanh nghiệp nhà nước là nội dung quan trọng trong quá trình đổi mới cơ chế
quản lí,cơ cấu lại nền kinh tế.Mục tiêu của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là
huy động vốn trong và ngoài nước,thay đổi phương thức quản lí,thay đổi trang
thiết bị đầu tư mở rộng sản xuất đồng thời để người lao động tham gia quản lí
nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp làm ăn có lãi.
Tính
đến ngày 31/12/2001 toàn quốc có 875 doanh nghiệp nhà nước và bộ phận doanh
nghiệp nhà nước được chuyển đổi sở hữu,riêng năm 2001 có 255 doanh nghiệp.Các
doanh nghiệp được chuyển đổi sở hữu theo hình thức cổ phần hoá là 722 doanh
nghiệp.Đến cuối 12/2002 cả nước có 920 doanh nghiệp cổ phần hoá.Thống kê ngày
20/12/2003 thì có 360 doanh nghiệp nhà nước hoàn thành chuyển đổi sở hữu,trong đó
312 doanh nghiệp cổ phần hoá.
Trong
số doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá có 60 doanh nghiệp trước khi cổ phần hoá
kinh doanh thua lỗ(ví dụ:sứ Bát Tràng,nước mắm Thanh Hương,chè Bảo Lộc,du lịch
Tam Đảo,điện tử Phú Thọ,khách sạn Hải Vân Nam…)số còn lại khi lãi khi lỗ.
Các
doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá đều phát triển tốt,không chỉ bảo toàn và phát
triển được vốn tăng thu cho ngân sách mà còn duy trì mức trả cổ tức cho các cổ đông
ở mức bình quân từ 10-15% năm.Qua cổ phần hoá 722 doanh nghiệp nhà nước đã huy động
được trên 2440 tỷ đồng vốn nhàn rỗi để đầu tư phát triển các doanh nghiệp cổ phần
hoá và củng cố doanh nghiệp nhà nước cần thiết nắm giữ,bao gồm:1470 tỷ đồng thu
từ bán phần vốn nhà nước và thu thêm 970 tỷ đồng thông qua bán đấu giá cổ phần
cao hơn giá sànvà phát thêm cổ phần thu hút vốn.Các công ty cổ phần có mức tăng
lợi nhuận đáng kể so với trước khi cổ phần là:Đại lí liên hợp vận chuyển 4,1 tỷ
đồng lên 45,7 tỷ đồng,cao su Sài Gòn từ 2,3 tỷ lên 23 tỷ đồng.
Ngoài
ra các danh nghiệp cổ phần hoá còn tăng nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước.
3.2.Thành lập các tập đoàn kinh doanh.
Theo
quyết định 91/TTg của thủ tướng chính phủ về việc thành lập các tập đoàn kinh
doanh.Sự thành lập tập đoàn kinh doanh sẽ tạo ra được mức độ tập trung vốn
cao,tạo điều kiện cho công ty có thể đổi mới công nghệ, phương pháp sản xuất.
Trước
đây các xí nghiệp sản xuất của ta(nhất là các doanh nghiệp nhà nước) có trình độ
trang bị kĩ thuật lạc hậu,không đồng bộ,bị xuống cấp nghiêm trọng.Các doanh
nghiệp thì đều ở tình trạng thiếu vốn để đổi mới công nghệ do vậy khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế rất kém.Ví dụ
như công ty dệt may:trong ngành dệt có trên 50% thiết bị đã sử dụng trên 25 năm,máy
dệt khổ hẹp chiếm 80%,thiết bị nhuộm hoàn tất chỉ có 10% vào loại khá,35% phải
nâng cấp thay thế.Do đó sản phẩm dệt may do Việt Nam làm ra kém cả về chất lượng
và hình thức mẫu mã.Khi thành lập tổng công ty,vốn được tích tụ tập trung,có điều
kiện thay đổi máy móc kĩ thuật nên ngành dệt may Việt Nam đã có nhiều khởi sắc,trở
thành một trong những ngành đưa về nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước.
Mặt
khác,có thể thấy rằng việc thành lập các tổng công ty theo mô hình tập đoàn
kinh doanh được coi là một trong các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lí
nhà nước về kinh tế.
3.3.Giải pháp giải quyết vấn nợ và hàng hoá
ế thừa.
Ngày
3/5/1998 Chính phủ đã ban hành nghị định 30CP về quy định chuyển lỗ trong kinh
doanh.Theo nghị định này các doanh nghiệp được Nhà nước cho khoanh nợ ,chuyển nợ
sang các năm sau,khoanh nợ số hàng tồn kho,tạm bỏ gánh nặng nợ nần để tìm giải
pháp kinh doanh hợp lí ,đạt doanh thu cao ,kiếm lợi nhuận ,dần trả nợ sau.Đây
là biện pháp rất phù hợp với tình hình các doanh nghiệp nhà nước hiện nay,do hầu
hết câc DNNN thua lỗ đều chịu gánh năng phần thua lỗ từ năm trước đẻ lại,như ở
công ty gang thép Thái Nguyên được Nhà nước khoanh nợ ,đầu tư vốn cho công nghệ
đã có những bước chuyển lớn.
NgoàI ra nhà nước còn ban hành Luật phá
sản(1993),Luật thương mại,luật doanh nghiệp…nhằm giải quyết các vấn đề về cảI
thiện môI trường kinh doanh ,cân đối lại hệ thông doanh nghiệp.Nhà nước cũng liên
tục tâng vốn đầu tư cho các doanh nghiệp nhà nước.Năm 2001 vốn của mỗi doanh
nghiệp bình quân là 20tỷ thì đến cuối năm 2003 mỗi doanh nghiệp vốn bình quân là
45 tỷ.
Những biện pháp nói trên của Nhà nước đã
phần nào giảm được tình trạng thua lỗ của các doanh nghiệp trong thời gian
qua,tuy nhiên hiện nay vẫn còn nhiều doanh nghiệp thua lỗ ,đòi hỏi cả Nhà nước
và doanh nghiệp cùng phối hợp để đưa doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng khó khăn
đó.
PHẦN III
GIẢI PHÁP KINH TẾ VỚI DNNN LÀM ĂN THUA LỖ
1- Giải pháp
của các doanh nghiệp nhà nước.
Nước
ta đang trong tiến trình hội nhập ,tham gia vào các tổ chức quốc tế,như
:APEC,AFTA,WTO,các hiệp định thương mại song phương .Đây chính là cơ hội cho các
doanh nghiệp xây dựng một chiến lược kinh doanh hướng về xuất khẩu trong điều
kiện quốc tế ngày càng mở rộng.Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ đối
mặt với nhiều thử thách lớn:Môi trường kinh doanh biến động liên tục ,cạnh
tranh quốc tế ngày càng trở nên gay gắt,đời sống sản phẩm ngày càng rút ngắn,nhu
cầu của khách hàng thay đổi liên tục…
Trong
điều kiện đó, nếu các doanh nghiệp của chúng ta không vượt qua những thử thách
cạnh tranh tất yếu sẽ gặp nguy cơ bị đào thải bởi quy luật cạnh tranh khắc nghiệt
của cơ chế thị trường.Đó là khó khăn không chỉ với những doanh nghiệp làm ăn
thua lỗ mà với ngay cả những doanh nghiêp làm ăn có lãi hiện nay.
Vậy các
doanh nghiệp cần xây dựng và triển khai một chiến lược cụ thể,một hệ thống các
chương trình hành động đồng bộ trong suốt ba,bốn năm tới để không chỉ khắc phục
tình trạng thua lỗ ,mà còn mang lại cho doanh nghiệp một sự phát triển bền vững
từ sau năm 2005.Một hệ thống 10 chương trình đổi mới đồng bộ để nâng cao năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp được đề xuất như sau:
1.1.Chương trình tiếp thị tổng lực:Bao gồm cả chương trình tiếp thị nội địa,
chương trình tiếp thị quốc tế và thương mại điện tử – từ việc xây xây dựng thương
hiệu – hệ thống phân phối – quảng cáo – khuyến mãi –giá cả - mở rộng quan hệ với
công chúng….Đây là một chương trình hành động có nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp,một giảI pháp cơ bản để
doanh nghiệp có thể ”thoát kiếp” gia công, thoát khỏi sự lệ thuộc vào trung
gian,xuất khẩu trực tiếp đến những thị trường cuối cùng.
1.2.Chương trình hiện đại hoá kỹ thuật-công nghệ:Đầu tư đổi mới máy móc thiết bị để cung cấp
những sản phẩm chất lượng cao,đáp ứng những yêu cầu ngày càng khắt khe của những thị trường “khó tính”.Thực
hiện tốt chương trình này sẽ quyết định đến năng suất
lao động ,giá thành sản phẩm, nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn.Các doanh nghiệp cần phải coi đây là khâu đột phá có tính
chất cách mạng ,sẵn sàng đầu tư vốn lớn cho máy móc thiết bị ,trả thù lao xứng đáng
cho các phát minh sáng chế có giá trị thực tiễn
trong đổi mới công nghệ phục vụ sản xuất và kinh doanh.Đổi mới công nghệ
thì phải đồng bộ ,có sự kiểm tra kiểm soát
chặt chẽ trong việc đổi mới và mua các dây chuyền mới, tránh tình trạng bị móc
ngoặc mua phải công nghệ lạc hậu.
1.3.Chương trình tái cấu trúc- tổ chức lại doanh nghiệp-hiện đại hoá
quản lí:Nhằm tạo ra một cơ chế quản lí mới ,các hoạt động sản
xuất kinh doanh năng động,phù hợp với yêu cầu cạnh tranh quốc tế.
1.4.Chương
trình quản lí chất lượng theo tiêu chuẩn ISO9001 – 5S – GMP –HACCP –SSOP –
SA8000…nhằm giúp cho doanh nghiệp có thể vượt qua các rào cản kỹ thuật
một khi hàng rào thuế quan ở trong nước lần lượt bãi bỏ.
1.5.Chương
trình ứng dụng công nghệ phần mềm,tin học hoá toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp:nhằm
tăng cường công cụ quản lí,đáp ứng yêu cầu hoạt động trong thời đại mới,
phải được triển khai với tốc độ cao.
1.6.Chương
trình nghiên cứu – phát triển sản phẩm mới:hình thành một bộ phận nghiên
cứu, thiết kế tạo mẫu chuyên nghiệp và bộ phận chuyên sản xuất thử nghiệm các sản
phẩm mới nhằm nâng cao và duy trì sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.7.Chương
trình gia tăng tiềm lực tài chính – cạnh tranh thu hút vốn: để đủ nguồn
tài trợ cho chín chương trình khác trong từng thời kỳ .Đồng thời nâng cao năng
lực quản trị tài chính phù hợp theo từng bước mở rộng quy mô doanh nghiệp.Công
khai hoá và minh bạch hoạt động tài chính được xem là điểm xuất phát của chiến
lược tài chính,qua đó để doanh nghiệp biết được thực trạng và hiệu quả sử dụng
vốn ,có như vậy mới khắc phục được một số nguyên nhân về tài chính,tham nhũng,bòn
rút vốn nhà nước.
1.8.Chương
trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực – cạnh tranh thu hút nhân tài:
nhằm vừa phát triển năng lực ,kiến thức ,kỹ năng của đội ngũ sẵn có ,vừa bổ
sung thêm người giỏi đáp ứng những yêu cầu ,nhiệm vụ mới của doanh nghiệp.Nguồn
nhân lực luôn được coi là một trong những nhân tố quan trọng giúp cho doanh
nghiệp tạo dựng hình ảnh và vị thế của mình trên thương trường.Đào tạo sẽ không
thể tách rời kế hoạch và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp .Đào tạo cần phải
được coi là một trong những nhân tố vô cùng quan trọng để giúp doanh nghiệp xây
dựng thương hiệu và hình ảnh của mình trên thị trường.
1.9.Chương
trình cổ phần hoá và niêm yết thị trường chứng khoán:chương trình này vừa
nhằm tạo tiền đề cho chương trình gia tăng tiềm lực tài chính – cạnh tranh thu
hút vốn ,vừa là cơ sở đổi mới cơ chế quản lí một cách triệt để và cũng nhằm tạo
ra một động lực mới trong cán bộ ,nhân viên.
1.10.Chương
trình hợp tác – liên kết – gia nhập – các hiệp hội trong và ngoài nước…Đây
là chương trình sẽ tạo thêm sức mạnh cho doanh
nghiệp theo nguyên lí “buôn có bạn ,bán có phường”.Mỗi doanh nghiệp thường
sản xuất – kinh doanh một số mặt hàng ,hoặc đảm bảo nhận một số khâu của quá trình
tái sản xuất như:chỉ sản xuất một chi tiết ,bộ phận của sản phẩm hoàn chỉnh
(vd:trong cơ khí)hoặc chỉ thực hiện một vài giai đoạn công nghệ (doanh nghiệp sản
xuất sợi ,vải của các ngành dệt-may) hay là chỉ tập trung sản xuất sản phẩm còn
các doanh nghiệp khác sẽ cung ứng nguyên vật liệu (DNđường,DN giấy).Đi liền với
tiến bộ khoa học –công nghệ và phát triển của phân công lao động xã hội ,cùng với
quá trình đa dạng hoá sản xuất ,các doanh nghiệp cũng phát triển theo hướng
chuyên môn hoá sản phẩm và vai trò công nghệ .Do đó để tái sản xuất mở rộng các doanh nghiệp phải liên kết
với nhau.Thực tế sau vụ các doanh nghiệp Mỹ kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán
phá giá cá tra ,cá basa các nhà doanh nghiệp Việt Nam mới thực sự nhận ra tầm
quan trọng của vấn đề này.
Từng
chương trình mục tiêu nêu trên cần được nghiên cứu ,lập dự án cụ thể như một dự
án đầu tư nghiêm túc.Điều đặc biệt quan trọng của chiến lược này chính là sự đổi
mới đồng bộ giữa 10 chương trình này
theo một lộ trình phù hợp với đặc điểm của từng doanh nghiệp để có thể tạo ra một
sự chuyển biến sâu sắc,toàn diện ,gần như một cuộc lột xác toàn doanh nghiệp.
2- Giải pháp của các cơ quan Nhà
nước.
Doanh
nghiệp nói chung cũng như doanh nghiệp nhà nước nói riêng là những tế bào tạo nên
một cơ thể thống nhất là nền kinh tế Việt
Nam.Vấn đề thua lỗ của các doanh nghiệp đặc biệt là ở các DNNN là căn bệnh trầm
kha,có ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế nước ta.Trong thời gian qua ,tuy Nhà nước đã
có nhiều chính sách hỗ trợ ,đầu tư nhằm khắc phục tình trạng thua lỗ của các
DNNN,…nhưng trên thực tế các chính sách vẫn còn nhiều hạn chế về việc thực hiện
,chưa dồng bộ ,chưa mang lại hiệu quả cao.
Trong
nội dung bài tiểu luận này ,em xin phép đưa ra một số giải pháp cơ bản mà Nhà nước
cần thực hiện.
2.1.Giải quyết vấn đề vốn và sử dụng vốn hiệu
quả,vấn đề nợ đọng trong các DNNN:
Việc
thiếu vốn và sử dụng vốn không hiệu quả,cũng như công nợ quá lớn có ảnh hưởng rất lớn tới việc kinh
doanh thua lỗ của cácDNNN.Để khắc phục tình trạng này trước hết Nhà nước cần nhanh
chóng bổ sung vốn ,cần thực hiện xoá bỏ cơ chế cấp phát vốn,đồng thời xử lí nợ
của DNNN cả trong ngắn hạn và trong dài hạn.Trong ngắn hạn,với những khoản nợ đã
được ban thanh toán nợ trung ương xác nhận đưa vào diện cần xử lí thì tiếp tục
thực hiện biện pháp khoanh nợ,xoá nợ.Trong dài hạn ,sau khi nợ tồn đọng thuộc
diện phải xử lí đã được giải quyết xong, các khoản nợ phat sinh sau này được giải
quyết theo nguyên tắc tự chủ và tự chịu trách nhiệm.Một phương pháp nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
là chính phủ không cấp phát vốn một cách tản mạn,mà tập trung vốn cho các Ngân hàng thương mại Quốc doanh,thông qua đó
doanh nghiệp sẽ được các NHTM này cấp vốn với lãi xuất bằng tỉ lệ thu sử dụng vốn
Nhà nước trước đây cộng với chi phí ngân hàng.Điều này làm cho các doanh nghiệp
phải tính toán sử dụng vốn có hiệu quả ,vốn Nhà nước không những được bảo toàn
mà hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNNN cũng được nâng cao,vừa đảm bảo an ninh
tài chính vừa không làm mất cơ hội của DNNN trong đầu tư.Tuy nhiên có một biên
pháp được coi là khả thi hơn cả ,đó là Nhà nước thực hiện việc đầu tư và quản lí
vốn qua Công ty đầu tư tài chính.Công ty đầu tư tầi chính Nhà nước là một tổ chức
tài chính của Nhà nước có chức năng quản lí vốn của Nhà nước qua phương thức đầu
tư vốn vào DNNN nhằm mục đích chuyển từ cấp phát vốn sang cơ chế Nhà nước đầu tư
vốn vào các DNNN,từ đó xác lập rõ quyền sở hữu về vốn của Nhà nước và
quyền sử dụng vốn của các doanh nghiệp,tách bạch quản lí Nhà nước với quản lí
doanh nghiệp.Đây là một biện pháp hết sức thiết thực,để thực hiện phương án này
Nhà nước cần nhanh chóng có quy định về quy chế hoạt động và cơ chế tài chính của
mô hình công ty đầu tư tài chính.
2.2.Giải quyết những bất cập trong các chính
sách:thuế,tài chính ,tiền tệ, xuất nhập khẩu:
Chính sách thuế:Hệ thống chính sách thuế của nước ta còn nhiều nhược
điểm,cần sớm được hoàn thiện.Đối với các doanh nghiệp đang trong thời kì làm ăn
thua lỗ,Nhà nước cần có chính sách ưu tiên giảm thuế,tạo điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh ,vượt qua tình trạng khó khăn trước
mắt.Nhà nước cần sớm hoàn thiện cả về nội dung lẫn hình thức các chính sách thuế,sớm
ban hành các văn bản có liên quan đến việc thực hiện thuế,nhất là thuế xuất nhập
khẩu ,tạo khả năng cạnh tranh cho hàng hoá Việt Nam.
Chính
sách xuất nhập khẩu:Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay,các sản phẩm
trong nước chịu sự cạnh tranh quyết liệt của hàng hoá nước ngoài,do vậy Nhà nước
cần đưa ra những chính sách hợp lí ,tránh tình trạng nhập khẩu nhiều hàng hoá làm
cho các sản phẩm cùng loại trong nước không cạnh tranh được.Ngoài ra Nhà nước cần
có sự hỗ trợ cho các doanh nghiệp khi tham gia xuất nhập khẩu tạo lợi thế cạnh
tranh bước đầu cho doanh nghiệp khi thâm nhập thị trường thế giới.
2.3.Nhà nước cần tiếp tục thực hiện và đẩy mạnh
sắp xếp,đổi mới doanh nghiệp nhà nước.
2.3.1 Các giải pháp sắp xếp,cổ phần hoá DNNN:
2.3.1.1.Sửa đổi tiêu chí,danh mục phân loại sắp xếp
DNNN và quy định tỉ lệ vốn nhà nước tham gia trong cơ cấu vốn phát hành lần đầu
tại quyết định 58/2002/QĐ-TTg và chỉ thị 01/2003/CT-TTg theo nguyên tắc:
*Nhà nước
chỉ nắm giữ 100% vốn ở những doanh nghiệp hoạt động trực tiếp trong các lĩnh vực
an ninh,quốc phòng và một số doanh nghiệp có vị trí đặc biệt trong một số ngành
quan trọng của nền kinh tế như hệ thống truyền tải điện,trục thông tin,khai thác
quặng có chất phóng xạ,các doanh nghiệp hoạt động có tính chất đặc thù nhà nước
cần nắm giữ 100% vốn do Thủ tướng Chính phủ quyết định.Các doanh nghiệp còn lại
đều có thể thực hiện cổ phần hoá hoặc đa dạng hoá sở hữu.
*Chuyển
từ hình thức doanh nghiệp công ích sang cơ chế sản phẩm công ích và dịch vụ công
ích,khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đấu thầu thực hiện các sản phẩm
và dịch vụ này để nâng cao chát lượng và giảm chi phí cho ngân sách.
*Bỏ
quy định tỉ lệ cổ phần Nhà nước nắm giữ để tạo cơ chế linh hoạt trong hoạt động
quản lí và đầu tư vốn của nhà nước tại các doanh nghiệp và tạo điều kiện khuyến
khích doanh nghiệp huy động vốn từ các thành phần kinh tế trong nước và nước
ngoài để mở rộng sản xuất kinh doanh.
2.3.1.2Sửa đổi cơ chế cổ phần hoá,sắp xếp lại doanh
nghiệp tại Nghị định 64/2002/NĐ-CP và Nghị định 103/1999/NĐ-CP ,Nghị định
49/2002/NĐ-CP theo hướng:
*Mở rộng
đối tượng cổ phần hoá bao gồm cả các tổng công ty,các doanh nghiệp có quy mô lớn
và các nông lâm trường quốc doanh;thu hẹp đối tượng Nhà nước nắm giữ cổ phần.Nha`
nước chỉ công bố danh mục các doanh nghiệp Nhà nước cần nắm giữ 100% còn lại thực
hiện đa dạng hoá sở hữu bằng nhiều hình thức khác nhau theo lộ trình.
*Chuyển
cơ chế giao,bán,khoán kinh doanh và cho thuê doanh nghiệp sang thực hiện đấu thầu
bán doanh nghiệp (bao gồm cả quyền sử dụng đất)gắn với điều kiện đảm bảo việc làm
cho người lao động và đảm bảo môi sinh.Mở rộng quyền mua cổ phần,tham gia góp vốn
của các nhà đầu tư trong và ngoài nước để chuyển thành công ty cổ phần hoặc
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
*Đổi mới
phương thức định giá doanh nghiệp:bỏ cơ chế định giá thông qua hội đồng,thực hiện
định giá thông qua các tổ chức kế toán kiểm toán,thuê tư vấn tài chính trong và
ngoài nước để tạo điều kiện nâng cao uy tín,tính công khai minh bạch và nâng giá
trị doanh nghiệp khi cổ phần hoá.
*Bổ
sung giá trị hữu hình và vô hình,giá trị quyền sử dụng đất và giá trị vườn cây,rừng
trồng vào giá trị doanh nghiệp để thực hiện việc bán cổ phần hoặc bán đấu giá.
*Đổi mới
phương thức bán cổ phiếu đối với doanh nghiệp cổ phần hoá.
*Điều chỉnh
chính sách đối với lao động dôi dư ở các doanh nghiệp sắp xếp lại theo hướng có
thời hạn để đảm bảo tính kịp thời và sự giám sát của nhà nước;bổ sung quy định
khống chế về tỉ lệ lao động được áp dụng chính sách lao động dôi dư,cùng chính
sách ưu đãi về thuế để khuyến khích doanh nghiệp sắp xếp lại sử dụng nhiều lao động,duy
trì ổn định xã hội.
*Hoàn
thiện chính sách thuế,tiền thuê đất để khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện
cổ phần hoá và niêm yết bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
*Hoàn
thiện cơ chế chính sách kinh doanh chứng khoán và thị trường chứng khoán(Nghị định144/2003/NĐ-CP):giảm
bớt can thiệp hành chính trực tiếp của Nhà nước vào thị trường,tạo điều kiện
thuận lợi cho các doanh nghiệp phát hành chứng khoán ra công chúng,gắn việc phát
hành cổ phiếu với niêm yết công khai trên thị trường.Phát triển hệ thống trung
gian tài chính trên thị trường như các công ty chứng khoán,các quỹ đầu tư chứng
khoán,công ty quản lí quỹ đầu tư chứng khoán tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà
đầu tư trong và ngoài nước tham gia đầu tư vào cổ phiếu,trái phiếu doanh nghiệp.
2.3.2.Hoàn chỉnh các cơ chế,chính sách tài chính
đối với doanh nghiệp:
Ban hành
cơ chế tăng cường tính tự chủ,tự chịu trách nhiệm trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp,giảm bớt sự can thiệp hành chính của cơ quan Nhà nước đối
với doanh nghiệp.Ban hành cơ chế chính sách xoá bỏ các luật bảo hộ bất hợp lí,bao
cấp đối với các DNNN:khoanh nợ,giãn nợ,xoá nợ,bù lỗ,cấp vốn tín dụng ưu đãi…Chuyển
từ chính sách hỗ trợ trực tiếp sang chính sách hỗ trợ gián tiếp và tạo điều kiện
giúp các doanh nghiệp giảm chi phí đầu vào,nâng cao tính cạnh tranh,xúc tiến thương
mại và xuất khẩu:khuyến khích các doanh nghiệp tiếp cận với thị trường vốn,thị
trường chứng khoán.Ban hành cơ chế bắt buộc các doanh nghiệp phải chủ động xử lí
các tồn tại về nợ và tài sản tồn đọng ngay trong quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh,gắn với việc xác định rõ trách nhiệm của giám đốc doanh nghiệp trong
trường hợp để tình trạng tái diễn,thiết lập cơ chế kỉ luật thanh toán ở các
doanh nghiệp,đồng thời tạo điều kiện để dẩy mạnh việc xử lí nợ và tài sản tồn đọng
của các doanh nghiệp thông qua công ty mua,bán nợ,tài sản tồn đọng và các định
chế trung gian tài chính.
2.3.3 Đổi mới phương thức quản lí Nhà nước đối
với doanh nghiệp theo hướng:
Nhà nước
ban hành chính sách,chế độ giám sát theo các chi tiêu tài chính đối với các loại
hình doanh nghiệp,không can thiệp trực tiếp vào hoạt động của doanh nghiệp.Tăng
cường tính công khai minh bạch về tài chính và hệ thống đánh giá rủi ro qua các
công cụ như kiểm toán,kế toán,tư vấn tài chính…theo chuẩn mức và tiêu chuẩn quốc
tế với bước đi phù hợp với thực tế của Việt Nam.Thống nhất quản lí vốn Nhà nước
đầu tư vào các doanh nghiệp theo hướng xoá bỏ chia cắt về quyền sở hữu doanh
nghiệp giữa các bộ,địa phương và tổng công ty;Nhà nước giữ vai trò là nhà đầu tư
vốn thống nhất thông qua một tổ chức đầu tư vốn trung gian bằng việc thành lập
Công ty đầu tư tài chính Nhà nước để nâng cao hiệu quả hoạt động,bảo toàn và tăng
trưởng vốn Nhà nước trong doanh nghiệp.
2.4. Nhà nước cần tạo môi trường kinh doanh
thuận lợi hơn nữa:
Trong
thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay,với nền kinh tế mở,nhiều
thành phần kinh tế cùng nhau cạnh tranh,cùng với những khuyết tật của cơ chế thị
trường gây ra không ít khó khăn cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh.Do vậy
Nhà nước cần tạo môi trường kinh doanh bình đẳng và công bằng cho các doanh
nghiệp.Muốn vậy,Nhà nước phải hoàn thiện hệ thống pháp luật:tăng cường pháp chế,xử
lí phải nghiêm minh,nghiêm khắc các trường hợp vi phạm;nhanh chóng ban hành luật
cạnh tranh,hạn chế gian lận,tạo sự canh tranh lành mạnh.Có như vậy mới hạn chế được
tình trạnh thua lỗ triền miên của các DNNN.Nhanh chóng hoàn thiện luật DNNN,luật
phá sản đưa các doanh nghiệp thua lỗ thường xuyên,không có khả năng phát triển
vào dạng ngừng hoạt động,tránh tình trạng lãng phí vốn.
Ngoài
ra Nhà nước cần nhanh chóng triển khai, thực hiện luật kế toán-kiểm toán,và tổ
chức thực hiện trong các doanh nghiệp.Thực hiện chiến lược quy hoạch các DNNN
phải gắn với tình trạng thực tế.
Trên đây
em xin được đề cập một số giải pháp cơ bản cho các DNNN vượt qua tình trạng
thua lỗ mà Nhà nước cần thực hiện.Việc thực hiện các giải pháp như thế nào là vấn
đề rất khó.Tuy nhiên chắc chắn rằng khi thực hiện các giải pháp này tình trạng
thua lỗ ở các DNNN sẽ được giảm đáng kể mang lại hiệu quả không nhỏ cho doanh
nghiệp và nền kinh tế nước ta.
3- Các điều kiện thực hiện.
Tình hình
thua lỗ của các doanh nghiệp nhà nước đang là vấn đề hết sức nóng bỏng hiện nay.Việc
nhanh chóng tìm ra giải pháp khôi phục lại các doanh nghiệp là yêu cầu cấp thiết.Muốn
thực hiện tốt các giải pháp đòi hỏi cần có một số điều kiện cơ bản sau:
*Sự ổn
định kinh tế, chính trị là một điều kiện quan trọng để thực hiện các giải pháp
hiệu quả: ổn định kinh tế để giữ cho các doanh nghiệp phát triển ổn định, ổn định
chính trị để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi và môi trường đầu tư an toàn.
*Cần tăng
cường hiệu lực pháp luật, hệ thống pháp luật phải chặt chẽ đồng bộ, tạo môi trường
cạnh tranh lành mạnh.Từ đó thực hiện tốt được các giải pháp.
*Yếu tố
con người là yếu tố có tính chất quyết định đến kết quả thực hiện các giải pháp.Vì
giải pháp có tốt đến đâu mà yếu tố con người không đáp ứng được nhiệm vụ cần
thiết thì khó đạt được kết quả như mong
muốn.
*Muốn
thực hiện các giải pháp trên cần một lượng vốn rất lớn.Tuy nhiên không phải bắt
buộc Nhà nước phải có lượng vốn rất lớn đó mà Nhà nước cần phải có bước đổi mới
về quan điểm, cần có những chính sách đầu tư hợp lí và phương thức quản lí điều
hành vốn nhà nước tại DNNN nhằm phát huy tốt nhất hiệu quả sử dụng vốn.
Comments
Post a Comment